Cập nhật 09:19, 29/04/2021

“TÁC PHẨM DỰ THI TẠP CHÍ LANG BIAN 2021”

Con Pai ro mhai ra đi người S'Tiêng ở lại

TĨNH XUYÊN

Trở lại nơi vùng đất cách xa nhất trung tâm tỉnh Lâm Đồng (xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên), cảm xúc bồi hồi trong tôi càng dâng lên. Gần một phần tư thế kỷ trước, tôi ngồi bậc cửa nhà sàn nhỏ cùng già Điểu K’Giang hồi hộp ngóng bóng Tê giác Java từ rừng sâu ra uống nước. “Giờ thì con Pai ro mhai không còn nữa, nó không biết già đã có cái nhà xây này…”, ông Điểu K’Giang cất giọng…

Theo điều tra năm 1999, dân tộc S’Tiêng (còn gọi là X’Tiêng, Xa Điêng) có 66.788 người, phân bố tại 34 tỉnh, thành. Trong đó, tập trung ở tỉnh Bình Phước. Tỉnh Lâm Đồng nhiều thứ 4 với 255 người, chủ yếu tại xã Phước Cát 2. Người S’Tiêng nói ngôn ngữ Môn-Khmer, thuộc ngữ hệ Đông Nam Á, nhưng về hình thái kinh tế có hai nhóm. Xã Phước Cát 2 có nhóm Bù Đêh ở vùng thấp như thôn Phước Sơn, biết làm ruộng nước còn nhóm Bù Lơ ở vùng cao là Thôn 3 và 4, chủ yếu làm rẫy, sống gần người Mạ.

Đường 721 rong ruổi xuyên dọc từ huyện Đạ Huoai qua huyện Đạ Tẻh đến vùng đất Phước Thái này là khựng lại. Là độc đạo “vùng Ba” của thời gian khó. Năm 1996, tôi và ba kiểm lâm viên, anh Đinh Phong Trang, Nguyễn Đức Hướng và Hoàng Văn Gạo tựa vào nhau để cùng về với đồng bào S’Tiêng. Không có đường bộ, lên “ốc đảo” này phải bằng thuyền máy, ngược thác ghềnh dữ tợn của sông Đồng Nai. Bồng bềnh giữa dòng sông đêm buốt lạnh. Sáng ra, thuyền cập bờ núi, đó là thôn Bù Khiêm. Người dân gọi là Bàu Chim vì nhóm cư dân này quần tụ sinh tồn chỗ thung lũng, dựa vào bùn sình để cắm cây lúa xuống. Hạt gạo nuôi hơn 50 người S’Tiêng của 8 hộ, hạt thóc nuôi nhiều loài chim của trời. Bây giờ đã có 80 người chung lưng đấu cật trong 17 hộ dân. Ông Điểu K’Giang từng là Huyện đội Phó huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, thuộc đối tượng chính sách dù không còn làm thôn trưởng nữa. Ông K’Giang và ông Điểu K’Mười là hai người tiên phong khai khẩn vùng đất này để tạo lập cuộc sống gia đình. Bắt đầu từ cắm cây điều trên mé núi triền dốc, dúi nhánh mạ xuống mặt bùn nhấp nhổm. Rồi nuôi thêm mươi con bò… Cuộc sống từ đó ổn định lần lần, sắm được máy tuốt lúa, tivi, cas-sette…Tôi không quên cái đêm ở nhà Thôn trưởng Điểu K’Giang. Giữa sàn gỗ, bữa cơm tối có cá suối, rau rừng, đủ đọng đưa những hương vị sâu thẳm của đại ngàn độ lượng. Gần 20 giờ, rất đông đàn ông và phụ nữ S’Tiêng xúng xính trang phục đẹp nhất có thể kéo đến nhà già K’Giang. Lũ làng quây bên chóe rượu già tuổi và nương ủ từ rất lâu. Chiếc cần hút cong cong mời gọi. Hương rừng từ rượu dâng lên, loang tỏa thơm lừng lựng. Những hạt lửa tí tách lồng quấn vào dòng khói lam nơi bếp củi giữa nhà vẩn vơ quyến luyến... Hơn 22 giờ, trăng lõa thể mê hoặc. Trăng dát nõn nà lá cây lấp lánh. Trăng dìu từng nhịp cầu thang tiễn lũ làng về theo dòng chảy sử thi... Điểu K’Mười thung thăng xách diều đi, gửi lòng dạ hồn vía lên trời cao. Đây là phong tục truyền thống và rất đặc biệt của người S’Tiêng. Cánh diều cất bay khi bắt đầu nảy nở hồn người nổi khi đã thăng hoa. Cánh diều nghiêng chao, sáo đung đưa âm. Trong phiêu linh, đất giao hòa với trời, người giao hòa với vạn vật hữu linh...

Già làng Điểu K’Chá tựa vào vách ván. Lắng. Yên như pho tượng, Cái bóng của già in lên vách gỗ, nhì nhằng gần xa... Tôi ngồi lại bên già, khơi chuyện. Một lúc già mới mở lời kể về “Bù Khiêu của ông bà”. Thời của hồng hoang, thú và chim ve vãn quanh con người. Đồi T’rung Pa, đồi Gia Prê, đồi Pang Ă… lúc đó còn rất nhiều loài gỗ quý. Nhưng rồi chiến tranh, lâm tặc, những thân gỗ đổ xuống tứa nhựa như những dòng máu hồng. Cổ thụ mất đi, lồ ô ngoi lên giữa các đồi trọc, lởm chởm như những mũi lao. Bất giác tôi nhận ra sự trống rỗng hiện hữu nơi khuôn mặt của già Điểu K’Chá. Già ngưng kể những câu chuyện vốn đã rỉ rả. Già với cây đàn Đinh Kdúi. Già chống đàn giữa sàn nhà. Chẳng hát, mắt để ngoài sân hun hút gió. Sáu sợi dây bật tiếng từ tay già: “Tình”… “tình”… “tình”…. Gần xa trầm bổng đến nao lòng. Đêm thứ nhất trong ba đêm tôi được thả hồn mình với người S’Tiêng như thế...

***

     Lãnh đạo xã Phước Cát 2, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Mai Bảo Xuyên và Phó Chủ tịch UBND xã Trương Văn Xã cung cấp cho tôi nhiều thông tin về “xã Nông thôn mới” cán đích cuối năm 2017. Vui với các anh trong sôi nổi rồi tôi đề nghị vào Thôn 3 và Thôn 4 sớm khi mặt trời bắt đầu tạc bóng núi từng mảng khối màu thẫm. Điểu K’Ru là Bí thư Thôn 4, Thôn Đội trưởng, cán bộ y tế thôn bản được lãnh đạo xã cử làm người đồng hành với tôi. Thư thả ngồi xe máy trên đường nhựa láng bóng vừa hình dung, nhưng quả là khó. Xưa ấy, từ trung tâm huyện lên 2 thôn này chúng tôi phải qua 30km bằng thuyền và xuồng, tiếp tục đi bộ hơn 10km, xuyên rừng và leo những lối dốc 470 trong hai giờ mới thấu vô thôn của anh. Không có tăng cường hỗ trợ từ ba kiểm lâm bán chuyên trách là Điểu K’Minh, Điểu K’Vơn, Điểu K’Trang chắc chuyến đi đó bất thành…

Có con đường ôtô thấu Thôn 3 và Thôn 4 đã là ngỡ ngàng, được mục sở thị cơ ngơi hạ tầng vùng đất này càng khó tưởng tượng trong tôi. Điện lưới quốc gia, điện năng lượng mặt trời; nước sinh hoạt hợp vệ sinh, xe máy, tivi trong mỗi nếp nhà. Còn cả máy tính, tủ lạnh như vợ chồng trẻ Điểu K’Ru (sinh năm 1980) và cô giáo Điểu Thị Dru’ (sinh năm 1988) thì không “òa” lên một tiếng mới lạ! Cả hai thôn đều có phân trạm y tế, điểm trường mầm non và điểm trường tiểu học của hai trường đều đạt chuẩn quốc gia. Trẻ em học lên THCS và THPT được học trường bán trú của huyện và nội trú liên huyện. Lần trước tôi vào, giáo viên Nguyễn Danh Thắng chỉ mới học xong lớp cấp tốc sư phạm 6 tháng, còn Hồ Xuân Hải chưa qua sư phạm. Giờ thì đội ngũ thầy cô giáo của Trường xã Phước Cát 2 đều đạt 100% trình độ chuẩn theo mốc trước tháng 7 năm 2020. Thầy Phan Gia Lợi, thầy Nguyễn Xuân Trà và thầy Nguyễn Quang Thạc “cắm bản” một năm tại Thôn 4. Ba thầy phụ trách 19 học sinh với 3 lớp. Tuy còn nhiều gian khó về cơ sở vật chất và phải học lớp ghép vì sĩ số học sinh ít, nhưng các thầy đã huy động đạt 100% trẻ học xong mầm non vào lớp 1. Khác xưa lắm rồi. Nếu tôi không dẫn ra chi tiết lớp học ngày ấy thì khó lòng ai hiểu được: Tuổi trung bình học sinh từ 8 đến 16, cá biệt có Điểu Thị Ven 45 tuổi; cố gắng lắm vẫn còn đến 30% bỏ học và không ít trò tái mù chữ... Chia tay với ba thầy giáo Thôn 4, tôi đến Thôn 3 khi cô giáo người Nùng - Thạch Thị Nga đang tổ chức cho 16 trẻ từ 3 đến 5 tuổi hoạt động vui chơi ngoài trời. Lũ trẻ ríu ran với các hoạt động, chúng thay nhau leo lên để tụt cầu trượt, tiếng cười đong đưa mọi cỏ cây và ngọt thêm từng giọt nắng… Dĩ nhiên Phước Cát 2 chưa thể hết những đứa trẻ thiếu cân so với độ tuổi. (Còn 15,47% trẻ dưới 5 tuổi kia mà). Nhưng cách mà lũ trẻ hồn nhiên vui chơi thật sự đã ấm lòng lắm. Một phần tư thế kỷ trước, y tá Lê Quang Ánh cho tôi biết, thôn có tới 20% dân bị sốt rét, trung bình mỗi tháng đến 7 ca. Bây giờ y tế thôn bản Điểu K’Ru nói: “Từ 2005 đến nay sốt rét không còn nữa. Thỉnh thoảng chỉ một vài người dân bị viêm họng thôi bác ạ”... 

Người S’Tiêng Thôn 3 và Thôn 4 ở trong lõi Vườn quốc gia Cát Tiên nên được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua nhận bảo vệ rừng với 30 hecta mỗi hộ. Lâm phần rừng đặc dụng của Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trên địa bàn huyện Cát Tiên hơn 21.863 hecta. Ngoài ra còn hơn 5.372 hecta thuộc rừng sản xuất huyện giao cho tổ chức và hộ gia đình quản lý sử dụng. Trong 5 năm qua (2015-2019), diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn Cát Tiên ổn định, không xảy ra điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép. Tỷ lệ độ che phủ rừng năm 2014 đạt 62,8% tăng lên 63,9% vào năm 2019 (hơn 23.538 hecta từng tự nhiên và gần 3.721 hecta rừng trồng đã thành rừng). Giai đoạn từ năm 2010 đến 2014, Cát Tiên duy trì ổn định độ che phủ của rừng đạt từ 62,7% trở lên. Đến năm 2014, tổng kinh phí chi trả từ dịch vụ môi trường rừng hơn 43,610 tỷ đồng. Cả giai đoạn này không xảy ra vụ cháy rừng nào. Với xã Phước Cát 2, đại diện Vườn quốc gia Cát Tiên, ông Hồ Huy Hải - Trạm trưởng Phước Sơn, Trạm đứng chân trên địa bàn xã Phước Cát 2 nhận xét với tôi: “Cộng đồng nhận khoán xây dựng kế hoạch phối hợp với lực lượng kiểm lâm Trạm hàng ngày tuần tra rừng, ngăn chặn tháo gỡ bẫy, lấn chiếm đất rừng rất tích cực. Bà con cùng anh em chúng tôi ngủ rừng dài ngày, vừa ngăn chặn vi phạm tại gốc, vừa tuyên truyền giáo dục cho người trong gia đình và hàng xóm không vi phạm đến rừng. Đây là những yếu tố hết sức có ý nghĩa”. Chủ tịch xã Mai Bảo Xuyên không giấu niềm vui khi thông tin: “Hai Thôn chuẩn bị triển khai dự án bảo vệ sinh thái rừng do Tổ chức quốc tế phi Chính phủ và Vườn quốc gia Cát Tiên triển khai đấy anh ạ. Riêng đầu tư cây trồng kinh phí 1,2 tỷ đồng, xã đề nghị huyện hỗ trợ bà con công tác chăm sóc. Bắt đầu từ năm 2021 này là triển khai”. Đó là nguồn thu nhập quan trọng của đồng bào S’Tiêng và không chỉ dừng lại ở an sinh mà còn ý nghĩa là nâng nhận thức bảo vệ rừng ở họ. Áp lực lên tài nguyên rừng sẽ được giảm tỷ lệ thuận với thu nhập của người dân từ hưởng lợi các chính sách an sinh. Một ấn tượng từ lần trước mãi đeo đẳng tôi, đó là khi vào nhà anh Điểu K’Men, đảng viên, cựu chiến binh, thôn phó an ninh. Trên vách nhà của anh, ngoài tấm “Huân chương Kháng chiến chống Mỹ” Hạng Ba, nơi mái bếp có tới 46 bộ hàm răng heo rừng, mễn, cheo và trên gác còn khoảng 7 g thịt heo rừng đã được tẩm khói chín dùng để ăn dần. Bây giờ người S’Tiêng cùng việc bảo vệ rừng là sản xuất hơn 300 hecta cây điều chuyển đổi giống mới, trồng ghép cây cà phê. Cùng với lúa, hoa màu, chăn nuôi… bà con đã góp phần với xã đưa giá trị sản xuất trên mỗi hecta lên 50 triệu. Tuy thu nhập bình quân so với mặt bằng của xã Phước Cát 2 còn thấp hơn nhưng đồng bào S’Tiêng đã đạt 35 triệu đồng/ đầu người/ năm. Số hộ nghèo và cận nghèo chưa hết nhưng không còn những ngôi nhà dài lặng lẽ trầm mình buồn trong nắng với gió, không còn những con người ẩn dưới những túp nhà nhỏ xíu đeo đẳng với từng bữa ăn đứt gãy. Giờ là nhà xây, nhà gỗ, nhà tôn tươm tất, bếp gar, bếp củi luôn đỏ lửa…

Muốn khoe cái sức sống mới của thôn, Điểu K’Ru còn dẫn tôi qua những vườn điều trĩu quả và đến nhà một vài hộ khác. Đó là hai cựu chiến binh, ông Điểu K’Băm 90 tuổi, 58 tuổi Đảng và ông Điểu K’Ké, 101 tuổi. Cả hai hộ đều có nhà xinh “Đại đoàn kết” do Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bình Phước xây tặng. Kế bên là nếp nhà truyền thống, con cháu tíu tít sum vầy. Ông Điểu K’Băm tay đeo chiếc đồng hồ vàng óng, đung đưa trên võng lưới được chéo trên chiếc nhà sàn nhỏ. Ông bảo, ngồi đây cho mát và chờ bà nhà tôi về. Ông kể: “Hồi xưa ở đây chỉ có 7 nhà thôi. Khổ lắm. Làm rẫy làm nương, ăn đọt mây, lá nhiếp, có thịt con heo, con nai, con sóc, cá cũng nhiều. Có con min (trâu), có voi, tê giác nhiều, giờ không thấy nữa… Rượu cần cũng hết vì giờ theo Tin Lành”. Điểu K’Ru tự hào nói: “Cậu của em đấy”. Tôi bảo anh lên ngồi với ông để chụp tấm ảnh kỷ niệm. Già Điểu K’Băm nói: “Từ đã. Để tôi lấy cái kính đeo”. Ông bước xuống cầu thang vào nhà xây lấy thẻ Đảng làm chứng với tôi và đeo kính râm tự tại ngồi võng như một thời ở rừng kháng chiến. Chúng tôi trò chuyện thì vợ ông, bà Điểu Thị Khoe về với gùi củi khô. Hai tai của bà sệ dài xuống vì dái tai nong lỗ to luồn hai lõi gỗ dài bọc bằng vòng màu trắng, theo Điểu K’Ru đó là ngà voi. Bà còn có chiếc vòng bạc to đeo ở cổ. Những trang sức truyền thống của phụ nữ các dân tộc Tây Nguyên như thế này giờ rất hiếm bắt gặp. Bà Khoe cười, khuôn mặt nhiều nếp nhăn nhưng đôi mắt vẫn hút sáng, khẩu âm rành rọt. Dường như thời gian chưa thể khuất phục nổi dấu ấn dạn dày của một sơn nữ Tây Nguyên...      

Chia tay Điểu K’Ru để xuống núi, tôi trở ra khi trời đã xế. Chẳng vội vàng như hồi xưa, xe bon bon vài cây số tôi dừng lại giữa cánh rừng già lá rộng thường xanh để tận hưởng hương hoa trái dâng mọi tầng thực vật. Chim ríu ran gọi bạn tình trên chót vót cổ thụ cao mấy chục mét, vọng xuống neo vào dò phong lan Hoàng thảo vàng rực… Ra khỏi rừng xanh, gió mát dào lên từ dòng sông Đồng Nai bao bọc Phước Cát 2. Bên kia là tỉnh Bình Phước. Những chiếc cần cẩu lớn đang đặt các thanh tà vẹt cuối cùng để hoàn thành cái cầu kiên cố vượt sông với hai làn ô tô nối hai tỉnh. Ánh chiều lung linh mặt nước vỗ mạn mấy thuyền ăm ắp khoang hàng ngược dòng thảnh thơi…

Về đến trung tâm xã, tôi gọi điện tạm biệt Bí thư Mai Bảo Xuyên. Anh chào và nói thêm, quả quyết và phấn chấn: “Anh vào thấy đường đi tốt chứ. Xe ôtô vào ra với bà con S’Tiêng thường xuyên nên thuận lợi phát triển kinh tế hơn đó anh. Đến năm 2025, Nghị quyết của xã đề chỉ tiêu thu nhập bình quân người/ năm của Phước Cát 2 đạt 65,70 triệu đồng và chuẩn “Nông thôn mới nâng cao” vào năm 2024 anh ạ”. Thật hoan hỉ vui lây! Đầu năm 2021, khi tôi viết bút ký này, cầu Vĩnh Ninh vừa hợp long. Tết Tân Sửu, người dân Lâm Đồng và Bình Phước du xuân, nhân hạnh phúc trong nhau. Tương lai gần, Đường tỉnh 721 sẽ trở thành quốc lộ, gạch nối hạnh phúc giữa Quốc lộ 20 với Quốc lộ 14. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam ở xã Phước Cát 2: Người Kinh, người S’Tiêng, người Tày, người Nùng, người Mạ… giả từ cảnh sơn cùng thủy tận, để trở thành cư dân nơi trên bến dưới thuyền, vừa “nhất cận thị” lại “nhị cận giang”./.                                                                      

                                          


Xem thêm

Lên đầu trang